Nếu bọn họ thực sự muốn tống khứ cái gai trong mắt là nguyên chủ, thì cứ việc hưu thê hoặc hòa li, đuổi đi thật xa, khuất mắt trông coi là xong chuyện, ai lo phận nấy, nước sông không phạm nước giếng, chẳng phải êm đẹp hơn sao?
Đằng này, chỉ vì cái danh hão, bọn họ nhẫn tâm ép người ta vào đường chết.
Xuân Miên cứ có cảm giác trong chuyện này kiểu gì cũng có bàn tay lông lá của Trình Bắc Nghĩa. Gã đàn ông đê tiện này căn bản là kẻ vô ơn. Hoặc có lẽ vì nguyên chủ đối tốt với hắn quá, hy sinh cho hắn nhiều quá, nên ban đầu hắn còn biết ơn, nhưng dần dà lại coi đó là điều hiển nhiên, chẳng còn mảy may cảm kích.
Thậm chí hắn còn ghét việc người khác nhắc đến chuyện cái mạng của hắn, thành công của hắn ngày hôm nay có một nửa là nhờ công lao của vợ cả!
Lúc Xuân Miên xuyên đến, Trình Bắc Nghĩa đã bàn bạc xong xuôi ngày cưới với Mạnh gia và đang cố gắng dùng lời ngon ngọt để dụ dỗ nguyên chủ đồng ý.
Trong truyện gốc, nguyên chủ đương nhiên là gật đầu. Có thể vì quá đau lòng thất vọng, có thể vì buông xuôi, cũng có thể vì tin vào lời dọa dẫm của Trình Bắc Nghĩa rằng bà không còn chốn dung thân, đã cùng đường mạt lộ.
Thời đại này vốn hà khắc với phụ nữ, bà bị đuổi ra ngoài thì biết đi đâu về đâu?
Thôi thì coi như nể tình nghĩa vợ chồng một lần cuối, ở lại trong phủ xin miếng cơm thừa canh cặn mà sống qua ngày.
Ngờ đâu, miếng cơm ấy lại là cơm cúng, là bữa ăn cuối cùng trước khi lên đường...
Trước khi đến đây, Xuân Miên từng nói cô khá thích vị trí vợ cả của Trình Bắc Nghĩa, bởi vì ở vị trí này, cô có thể danh chính ngôn thuận dạy cho gã tra nam kia một bài học nhớ đời về sự hiểm ác của xã hội!
May mắn thay, nguyên chủ cũng đã tỉnh ngộ, không còn vì tình cảm lằng nhằng mà mềm lòng nữa. Thế là quá hợp ý Xuân Miên.
Ngồi vắt vẻo trên lưng lừa, Xuân Miên thong dong ra khỏi thành trước khi trời tối.
Do Trình Bắc Nghĩa xuất thân thấp kém nên dù sau này leo lên chức cao, được Hoàng đế trọng dụng, nhưng con đường giao thiệp của nguyên chủ trong giới phu nhân quyền quý lại vô cùng gian nan.
So với những tiểu thư lá ngọc cành vàng ở kinh thành, nguyên chủ dù có cố gắng học hỏi lễ nghi đến đâu thì khí chất vẫn thua kém họ một bậc.
Cùng lắm là không phạm lỗi trong xã giao thôi, chứ muốn hòa nhập vào cái vòng tròn thượng lưu ấy thì khó như lên trời. Người ta coi thường bà, không muốn chơi cùng bà.
Vì thế, nguyên chủ chẳng có mấy bạn bè. Họa hoằn lắm mới có vài người qua lại xã giao kiểu "chị chị em em" giả tạo như hoa nhựa.
So với những tình cảm giả dối nơi phồn hoa đô hội, Xuân Miên thích đến Thanh Nhã quán ở ngoại thành hơn.
Nơi đó là chốn tu hành, người xuất gia từ bi hỉ xả, nếu mình xin tá túc thì họ cũng sẵn lòng thu nhận. Hơn nữa đều là nữ nhi, sinh hoạt cũng thuận tiện hơn nhiều.
Thời trẻ nguyên chủ cũng thích náo nhiệt, nhưng càng có tuổi lại càng ưa thanh tĩnh. Mấy ngôi chùa, cái am hương khói nghi ngút, khách khứa nườm nượp, bà chẳng thiết tha gì. Bà chỉ thích đến Thanh Nhã quán - nơi vắng vẻ, ít người lui tới.
Ở đó, bà tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn. Hơn nữa vị quan chủ ở đó là một người rất tốt bụng.
Nơi Xuân Miên đang hướng tới chính là Thanh Nhã quán. Trình Bắc Nghĩa cứ tưởng cô rời khỏi Trình phủ là hết đường sống, đến mảnh ngói che thân cũng không có ư?
Làm gì có chuyện đó?
Nếu Xuân Miên muốn, cô có thể san bằng cả cái đất nước này ấy chứ.
Nhưng hiện giờ triều đại Đại Vệ đang thái bình thịnh trị, quốc thái dân an, Xuân Miên chẳng việc gì phải vì tư thù cá nhân mà làm khổ bá tánh vô tội.
Xuân Miên định chơi chiến thuật "ném bom chính xác", báo thù đúng người đúng tội. Oan có đầu nợ có chủ, tội của ai thì người nấy chịu, cơm tù cơm cúng của ai thì người nấy xơi.
Nguyên chủ có thể một tay nâng đỡ Trình Bắc Nghĩa lên mây xanh, thì Xuân Miên cũng có thể từng bước đạp hắn xuống lại vũng bùn, khiến hắn trắng tay, để hắn nếm trải mùi vị đòn roi thực sự của xã hội!
Theo Xuân Miên thấy, Trình Bắc Nghĩa chính là được nguyên chủ chiều quá sinh hư, chưa từng nếm mùi đời nên suốt ngày chỉ biết mơ mộng yêu đương, chạy theo cái gọi là "tình yêu tuổi xế chiều".
Đợi đến khi bị cuộc đời vả cho sấp mặt, hắn khắc sẽ ngoan ngay thôi.
-
Ngoại thành kinh đô có hai nơi hương khói cực kỳ thịnh vượng, một là ngôi chùa lớn, hai là am ni cô cũng nổi tiếng không kém.
Hai nơi này nằm ở vị trí đắc địa, giao thông thuận tiện. So với chúng, Thanh Nhã quán nằm ở nơi hẻo lánh hơn hẳn. Hương khói ở đây cũng chỉ ở mức thường thường bậc trung, đường lên núi thì gập ghềnh khó đi.
Khi Xuân Miên đến được chân núi thì trời đã ngả sang chiều muộn. Cũng chẳng còn cách nào khác, tốc độ của chú lừa con chỉ được đến thế mà thôi.
Để leo lên dốc núi dựng đứng phía trước, chú lừa con e rằng quá sức. Xuân Miên bèn nhảy xuống đi bộ, dắt nó theo sau.
Một người một lừa thủng thẳng leo núi. May mắn thay, trước khi trời tối đen như mực, Xuân Miên cũng đã đặt chân đến trước cổng đạo quán.
Bây giờ đang là tháng chín. Tuy Đại Vệ triều nằm ở phương Bắc nhưng nhiệt độ cũng không đến nỗi quá khắc nghiệt.
Gió chiều mang theo chút se lạnh, vừa khéo thổi bay đi cái nóng bức, oi ả còn sót lại của ban ngày.
Có lẽ chẳng ai ngờ được Xuân Miên lại xuất hiện vào giờ này, lại còn trong tình trạng "tay nải gió đưa"...
À không, nói "tay nải gió đưa" còn là nói giảm nói tránh. Phải nói chính xác là "bố y đơn sơ", nhìn chẳng khác nào kẻ bị đuổi khỏi nhà đi lang thang.