Sang đến buổi chiều, có lác đác vài người tới thăm Nguyệt, nhưng Nguyệt mệt, không tiếp ai, có người bỏ về, có người vẫn nán lại chờ. ...
Qua tới giờ Mùi, Phủ Tây có một vị khách tới, đó là Trần Từ Hằng. Trần Ngạn giật mình ra đón, vui mừng hỏi:
- Tiên sinh đổi ý rồi chăng? Lần này tới giúp tôi chăng?
Hằng đáp:
- Cậu đi rồi, tôi ở lại cứ suy nghĩ mãi. Tôi trông lên trời, có điềm tượng, bèn gieo một quẻ xem hung cát thế nào. Tôi thấy âm khí lụi tàn rồi vụt tắt, tôi đoán Nguyệt Nhi không qua được đêm nay. Nghĩ mãi rồi lại quyết đi theo sau quân sư. Tôi về đây để gặp Nguyệt Nhi lần cuối rồi lại đi chứ không ở lại. Liệu tôi có thể gặp không?
Trần Ngạn tiếc nuối gật đầu, nói:
- Tiên sinh thật là "đức nhân" tiên sinh. Sáng nay đã ban lệnh thả Nguyệt Nhi rồi, ai cũng có thể gặp được. Vậy hãy tới thăm Xuân Nguyệt rồi quay lại phủ tôi. Lần trước công việc gấp rút chưa tiện hỏi nhiều, lần này tôi mời bữa cơm, hỏi tiên sinh đôi điều về việc thiên hạ cho được tường tận rồi tiên sinh hẵng về.
Nói rồi toan bỏ vào trong thì Từ Hằng giữ lại, cười nói:
- Quân sư thả được Nguyệt ra thì quả là người có lòng bao trùm thiên hạ, lại có chí làm nên nghiệp lớn, tôi nghe thế cũng lấy làm mừng cho Thiên Gia Môn. Nhưng xin thứ tội cho tôi nói một lời này. Quân sư đi hỏi thầy ở xa, sao không biết rằng có ngay cao nhân ở bên cạnh mình? Thiên hạ này có ai hiểu việc thiên hạ qua được Nguyệt? Nguyệt chẳng còn mấy hơi, muốn hỏi gì việc thiên hạ, sao không hỏi ngay Nguyệt ấy?
Trần Ngạn nghe thế lưỡng lự mãi, nhưng Từ Hằng động viên, thế rồi cùng đi. ...
Tới cuối giờ chiều, chúng cùng đến phủ Thượng Quan.
Bấy giờ vẫn có người chờ ở ngoài, chúng thấy Ngạn tới thì cùng lạy rồi lùi ra cho Ngạn vào trước.
Đi tới cửa lại có cả binh lính gác ngoài, đi đầu là Lê Văn Hoài. Đó là lính của Nguyễn Tử Kỳ đã tới. Đứng cùng chúng còn có bọn nữ hầu phủ Thượng Quan, ở đầu là Lê Thị Lan.
Chúng thấy Ngạn thì thất kinh sợ hãi, cùng cúi đầu không dám nói gì.
Ngạn hỏi Lê Văn Hoài:
- Ông còn chưa về doanh trại đi, vào đây làm gì? Quân sư đã nói không giết chủ ông, mà ông vẫn không tin à?
Hoài đáp:
- Không phải như thế, tôi vào để đón chủ tôi về đấy thôi.
Ngạn biết Hoài sợ Tử Kỳ bị hại nên vào, bèn không hỏi, lại quay sang Lê Thị Lan:
- Phu nhân mới thoát tội, đã đến đây làm gì? Muốn chọc giận thách thức ta à?
Lan đáp:
- Ban nãy tôi chỉ đến thăm một lát rồi vội về. Nhưng ngẫm lại, tôi muốn hầu cho chủ tôi tới phút cuối nên dẫn theo gia nhân hậu phủ quay lại. Nếu làm quân sư ghét bỏ, chờ chủ tôi mất rồi, tôi xin trả lại quan vị rồi chịu tội sau.
Từ Hằng nói:
- Thiên Gia Môn toàn người trung nghĩa, như thế không có lỗi.
Ngạn gật đầu, nói với chúng:
- Ta chỉ hỏi thế thôi, chứ quân tử nhất ngôn nhất hành, ta đã xóa tội cho Nguyệt, thì các người ở đây không có lỗi gì. Cái đức của các người như thế, ta cũng không ghét bỏ. Nếu có lỗi thì ở chủ các người, còn các người hãy cứ yên tâm mà phụng sự cho Thiên Gia Môn.
Thế rồi đi vào. Bọn chúng thấy có Từ Hằng đi cùng Ngạn, lại có Tử Kỳ vẫn đang ở trong nên cũng yên tâm đứng lùi ra.
Bấy giờ chúng cùng đi vào trong, Tử Kỳ đứng dậy ngay, Ngạn nói:
- Tướng quân chớ lo, tôi tới thăm Nguyệt Nhi lần cuối.
Tử Kỳ nói:
- Được, nhưng tôi phải ở lại đây.
Ngạn gật đầu, Kỳ bèn bắc ghế cho Ngạn và Từ Hằng ngồi ngay cạnh giường Nguyệt.
Tử Kỳ ghé vào tai Nguyệt, nói:
- Thưa mẹ, có quân sư và quan hành pháp tới thăm mẹ.
Nguyệt từ từ mở mắt ra, lờ mờ nhìn ra được Từ Hằng và Trần Ngạn. Nguyệt thều thào nói:
- Con đỡ cho mẹ dậy.
Bọn chúng vẫn ngồi im xem Nguyệt làm gì, Tử Kỳ lại đỡ lên, Nguyệt run run ngồi trên giường, lưng hơi còng xuống, rồi phẩy tay Tử Kỳ đứng lui ra.
Kế đó từ từ run rẩy quỳ, rồi khom người dập đầu trước Trần Ngạn.
Nguyệt dùng hết sức lực quỳ dập cho ngay ngắn, rồi nói ngập từng tiếng:
- Kẻ tiện súc này, xin... dập đầu ngàn lạy... Tạ tội với quân sư...
Ngạn ngồi im như tượng, chẳng biết vì đâu, nước mắt bỗng lăn tràn.
Bọn Từ Hằng, Tử Kỳ xúc động quá không còn chờ ý Ngạn được nữa, bèn cùng tự tiện lại đỡ lấy Nguyệt nhưng Ngạn đứng dậy bước lại, tự tay đỡ lấy, nói:
- Tôi xóa tội cho cô rồi, cô đừng nghĩ nữa. Cô đang mệt, có tiếp chuyện được không? Nếu được hãy nằm mà nói.
Bấy giờ Nguyệt mới òa khóc, từ mắt, từ mũi máu chảy ra ròng ròng ướt cả y phục. Tử Kỳ vội lấy khăn lau đi, rồi đỡ mẹ nằm xuống.
Từ Hằng nói:
- Xuân Nguyệt một đời thượng tôn công bằng, tôi một đời thượng tôn pháp luật. Người xưa nói: "không đồng đạo làm sao đồng hành?", thế nên tôi và Nguyệt đi khác đường. Tuy hành xử có khác, thế nhưng giờ ngẫm lại, đạo ta thực chung nhau. Ngày trước gặp Nguyệt còn quyền uy, tôi phải trốn chạy. Nay hai ta gặp nhau ở đây, cảnh đã thay đổi, Nguyệt thấy thế nào?
Nguyệt nói:
- Luật trời nó phải thế, tôi cũng thông về dịch số, đã biết từ lâu rồi. Giờ cũng sắp tắt hơi, không thấy thế nào cả.
Từ Hằng nói:
- Nguyệt có hối hận không? Có tiếc nuối gì không?
Nguyệt đáp:
- Tôi thấy có lỗi với nhiều người, tôi sẵn sàng chịu phạt. Nhưng việc tôi đã làm đều là việc tôi chủ làm, tôi cũng không tiếc nuối gì.
Từ Hằng gật đầu, bèn lại nắm lấy một bàn tay gầy gò đầy lông lá với những cái móng tay cong vòng của Nguyệt.
Trần Ngạn hỏi:
- Xin hỏi dì một câu này, phép trị thiên hạ nên thế nào? Xin dì dạy cho?
Nguyệt nói:
- Trị thiên hạ cứ lấy công bằng làm đầu. Có tội thì phải dẹp, người cao tới đâu thì cũng phải trị như người thấp, duy trì yên phép tắc làm nền. Khi làm việc nên biết tính tới việc lớn, rồi tính tới việc nhỏ, so những việc nhỏ vào việc lớn, xem được mất thế nào. Nếu mất ít hơn được, hoặc mất nhỏ mà được lớn, thì nên mất. Đã quyết là mất, thì mất rồi không tiếc, không đau lòng.
Ngạn lại hỏi:
- Vậy xin hỏi phép làm tể tướng thế nào?
Trần Từ Hằng và Nguyễn Tử Kỳ nghe thế cùng thất kinh nhìn sang Trần Ngạn.
Câu hỏi của Trần Ngạn đã nói lên ý chí của Trần Ngạn... Hoài bão của hắn, không nằm lại ở Minh Cảnh quân doanh này...
Nguyệt im lặng một lúc, bỗng trong giây lát như có phép màu, chợt trở nên tỉnh táo sáng suốt tới lạ thường. Cứ như khi sắp mất đi, trong đầu lại vẳng lên tiếng ai giục nhắc cho tỉnh.
Nguyệt bỗng ngồi trở dậy rất thẳng, trang nghiêm như ngày còn quyền, hai mắt lúc này không còn đỏ đục mà mở ra to tròn, sáng rực đầy tinh anh như thể có ai nhập vào, đoạn nhìn Trần Ngạn, nói dõng dạc:
- Thiên Gia Môn được ấn chứng làm vương, không ấn chứng làm vua. Thiên Gia Môn xuất hiện và lập thành là ý chí của các bồ tát ở cõi Tây Phương, các thần quan ở cõi Thiên giới, Minh Nguyệt vũ ở cõi Hồng Hoang. Nó được các vị ấn chứng cho lập thành đó là để truyền bá Huyền học, Phật học, đạo thiên phù thủy tới khắp nhân gian chứ không phải để cai trị chính trị, sự công bằng mà Thiên Gia Môn duy trì, là sự công bằng mang ý chí của luật nhân quả Phật học, luật âm dương Đạo học, không phải sự công bằng chính trị. Việc chính trị trên đời này vốn dĩ không có sự công bằng đó đâu. Do việc huyền như thế, nên những nhân chủ của Thiên Gia Môn, đều là Huyền nhân. Các âm binh của Thiên Gia Môn, đều là Huyền binh. Việc phải giữ lấy chính trị ở Minh Cảnh này là để việc truyền bá Huyền học được thuận lợi mà thôi, bởi tôn giáo đi liền với chính trị. Tuy đạo huyền sâu màu, gắn với chính trị nhưng không thay được chính trị, do vậy nên biết vị trí của mình, ở ngôi dưới thì mới lợi. Giáo chủ được ấn chứng, nhưng không thay được vua. Nếu lên ngôi chí tôn sẽ làm sai lệch đi ý nghĩa căn khởi của Thiên Gia Môn và chuốc tai vạ. Ta và tất cả các người đều là những chiếc vảy rồng từ thời Hồng Hoang, các vị gia chủ là những viên "Nhãn Long" mà thành, chúng ta cũng chỉ như nhau, đều sinh ra từ con Giao Long ngoài bể, không phải con Kim Long ở ngôi thiên tử. Nhà Trần mới thành hình, các vua mang mệnh thiên tử, làm vua cõi người cũng ngang hàng với làm vua cõi trời, khí số Trần triều hùng mạnh, hãy còn đến mấy kỉ sau chưa chắc đã tan. Thiên Gia Môn nên biết giữ vị thế của mình mà thôi, nếu cứ cố bước lên, là làm đảo mối cương thường, là gieo lấy mầm tai vạ, như vậy tất phải lụi tàn. Khi đó công lao khó nhọc của bao con người đều đổ vào sông bể. Ngươi làm quân sư, hãy chỉ nên học đạo làm quân sư, chớ nên học đạo làm tể tướng. Ngươi nên biết can lấy chủ, để tránh cho mầm tai vạ, đừng chủ trương hướng Thiên Gia Môn đi sai đường mà phụ sự ủy thác của các đấng bề trên. Câu hỏi ngươi hỏi ta ngày hôm nay, chỉ có trời biết, đất biết, bốn người trong căn phòng này biết, ngoài ra không được để lộ ra ngoài, nếu không sẽ rơi đầu. Các người đều là người của Thiên Gia Môn, nên nhớ lấy mà phụng sự.
Nguyệt nói xong thì hai con mắt sụp xuống, máu mồm phun ộc ra, rồi đổ gục ngay xuống giường, lại trở về trạng thái nửa mê nửa tỉnh. Như thể có thứ gì đó mượn thân Nguyệt mà truyền lời, xong việc thì lại đi vậy.
Tử Kỳ hốt hoảng lại đỡ, thấy hơi Nguyệt đã yếu, nói:
- Mời các vị ra ngoài cho mẹ tôi nghỉ.
Trần Ngạn lặng im không nói, Từ Hằng vội đứng dậy hành lễ, rồi kéo Ngạn ra ngoài.
Từ dạo đó biết tâm cơ to lớn của Trần Ngạn, Từ Hằng cũng không còn dám liên quan gì. Mỗi lần sứ của Ngạn đến xin ý, Hằng đều cáo ốm. Cứ thế vài bận, Trần Ngạn biết ý, không tới làm phiền nữa.
Được vài năm sau, quả nhiên Thiên Gia Môn bị triều đình sai tướng là Trần Quốc Tuấn đánh dẹp, cả một thể chế hùng mạnh lụi tàn, Trần Minh cùng thủ hạ phải ẩn sang nước Đại Lý mà trốn chạy.
Sau đó ít lâu thì Từ Hằng cũng bệnh mất. Ông hưởng dương thọ 66 tuổi, sống một đời thanh liêm chính trực. Vì công lao của ông trong bao năm làm quan ở xứ Minh Cảnh, triều đình xét thấy ông không liên quan việc chính trị, nên không bắt tội ông cùng theo Thiên Gia Môn. Ông được an táng tại quê nhà, tiếng thơm còn lưu về sau là người trưởng giả có đức, có nhân, biết thời, biết thế.