Chương 20: Cuộc gặp gỡ nhân duyên với đại bàng.

Thiên Gia Môn

Tĩnh Thuỷ 10-08-2023 00:12:47

Trên đỉnh Phù Vân, sí điểu nghe kinh Gặp được nhân duyên, tiểu tăng nói pháp. Trên Phù Vân tự, cứ đến đầu giờ chiều, khi đến giờ tụng kinh thì lại có một con đại bàng chẳng biết từ đâu bay về. Nó đậu ở mỏm đá sát sân sau của chùa rất lâu, cứ hết giờ đọc kinh thì nó lại bay đi, đến chiều hôm sau thì về lại. Trần Minh để ý được điều này, có lần hỏi Diệu Lan về con đại bàng đó, Diệu Lan đáp: - Con đại bàng ấy mới tới chùa này được vài năm, không biết là ở đâu lại, nó cứ hay tới chùa ta để nghe đọc kinh. Em nghe thầy nói nó là giống nòi khẩn na la, một nòi trong bát bộ chúng. Nếu có phép âm có thể nói chuyện với nó được, nhưng nó chỉ tiếp chuyện sư phụ thôi, có lần em hỏi chuyện mà nó không nói. Trần Minh lưu tâm tới điều ấy. Có một buổi chiều nọ Minh trốn khỏi giờ tụng kinh chiều, đi ra sân sau chùa quả nhiên thấy đại bàng đang đậu ở đó lắng nghe. Trần Minh đứng ở sân sau chùa, nghển cổ lên hỏi đại bàng: - Này, ông từ đâu tới đây? Đại bàng nhìn chàng thiếu niên chăm chú, rồi đáp: - Tôi thuộc nòi ca lâu la, không có tên họ, cũng không ai gọi đến bao giờ. Tôi đến từ Phương Bắc. Minh hỏi: - Ông tới đây làm gì? Đại bàng đáp: - Tôi tới nghe kinh phật. Trần Minh phá cười lên nói: - Kinh phật khó hiểu, loài người nghe hiểu còn chưa tới ba phần, ông nghe có hiểu gì không? Đại bàng nói: - Tôi nghe không hiểu gì cả. - Thế sao ông còn nghe? - Đại sư nói với tôi là cứ nghe đi, rồi đến lúc sẽ hiểu. Trần Minh nghe thế biết là nòi vô minh, nhưng xem ra cũng thuần, có thể dạy được, liền nói: - Ông không hiểu ở đâu, ông cứ hỏi tôi nhé. Tôi giảng cho ông được. Đại bàng phá cười lên, nói: - Chú tiểu năm nay bao tuổi? Pháp danh chú là gì? Xuất gia đã bao lâu? Minh đáp: - Tôi mười bốn, họ Trần tên Minh, pháp danh tôi là Tuệ Minh, đã xuất gia được hai năm rồi. Đại bàng nói: - Như thế tuổi còn ít, còn chẳng bằng được tôi. Việc tu học cũng không bằng thời gian với tôi, liệu giảng được gì cho tôi? Trần Minh nói: - Cứ hơn ta thì là thầy ta. Việc xét con người chẳng lấy tuổi ra mà xét. Nay ông có điều gì muốn thì hỏi thử xem tôi có giảng được không rồi mới biết. Đại bàng đáp: - Chú đã nói thế, vậy nay Tôi có việc khó muốn hỏi, nếu chú trả lời được cho tôi, tôi tôn chú làm thầy. Trần Minh nói: - Mời ông hỏi đi. Đại bàng nói: - Vậy mời chú nghe câu chuyện về tôi. Khi tôi sinh ra là con đại bàng, được cha mẹ ấp trong tổ ở trên núi cao. Tôi hỏi: "vì sao phải làm tổ nơi cao như thế?" Cha mẹ tôi nói rằng: "nòi ta là chúa muôn loài, kẻ thù cũng nhiều, ở trên cao ấy vừa tỏ rõ được cái uy, lại vừa không bị hại phạm đến." Khi tôi lớn lên, lông cánh mới nhú ra, cha tôi thả tôi từ trên tổ chim ở đỉnh núi cao chót vót cho rơi xuống đất. Tôi trong cơn sợ hãi cuống cuồng mà vô thức đập cánh mà bay, nhưng việc bay hẵng còn chưa đặng. Tôi rớt gần xuống dưới đất thì cha lại cắp tôi mang lên, cứ thế ngày đôi ba bận. Dần dà tôi vì thế mà học bay được. Khi tôi lớn lên biết bay rồi, cha tôi dạy cho bắt mồi, lớn thêm nữa thì cha mẹ tôi đi cả, để tôi tự sinh diệt. Trước khi cha tôi đi, tôi hỏi rằng: "lẽ sống của con là do đâu?". Cha tôi nói: "lẽ sống của con do con định lấy." Cứ thế bao năm qua tôi đi rong ruổi khắp các mọi nơi, tìm cho ra lẽ sống của mình. Đã là sinh vật trên đời này, sự sống theo lẽ mà dần thành sự chết, tôi sợ hết dương thọ mạng rồi mà vẫn chưa tìm ra lẽ sống nên cứ cố sức mà tìm, nhưng tôi tìm mãi tìm mãi vẫn không ra lẽ sống. Tôi có gặp được một vị chân nhân, vị đó bày cho tôi rằng: "ông nên đến cửa chùa mà tìm lẽ sống." Do đó mà tôi lưu tới đây nghe kinh, kinh sách khô khan khó nghe không hiểu gì cả, tôi bao phen định bỏ đi nhưng sư trụ trì lại giữ tôi lại, tôi hỏi trụ trì trả lời cho tôi lẽ sống, trụ trì chỉ cười nói: "hãy cứ nghe kinh đi." Vì lời đó mà tôi không đi khỏi đây, nhưng nghe qua bao lâu, vẫn chẳng có được câu trả lời. Nay chú tìm đến tôi, không do đâu mà lại muốn giúp tôi giải đáp, vậy có lẽ là nhân duyên chăng? Nếu chú giải đáp được lẽ sống ấy cho tôi, thì tôi nguyện theo ông cả đời này. Trần Minh nghe xong, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: - Loài vật như ông thì thường trưởng thành lớn khôn, rồi nên sinh con cái, nên thành cha mẹ. Thành cha mẹ rồi thì lại chăm con trên đỉnh núi cao, chờ cho con lớn thì dạy săn mồi, con biết săn mồi thì bỏ con mà đi, cứ vậy kiếm ăn qua bữa, cho hết một đời này. Nhưng ông là một con vật biết đặt ra sự hoài nghi, biết băn khoăn, biết tìm lý giải. Đó là cái điều quý, đó cũng coi như là nguồn phật tính chẳng dễ gì mà ở con vật có được, đó cũng là lý do trong số muôn ngàn con đại bàng, chỉ có ông tới chùa nghe kinh. Nhưng cho dù có các điều dị thường như thế, thì việc con đại bàng như ông đi tìm lẽ sống, đối với ông khó khăn diệu vợi vậy. Bởi vật chẳng như người. Lẽ sống là ở người, ông chưa thành người, mà muốn đi tìm lẽ sống, ví như người muốn vượt biển mà không có thuyền, chỉ có một chiếc gậy trèo núi vậy. Đại bàng nói: - Vậy tôi nên tu cho thành người trước có phải không? Trần Minh nói: - Đúng là nên thế. Trong vô thỉ tới nay, biết bao con vật vì muốn thành người, mà chúng nó tìm trăm phương nghìn kế. Ví như vào thời nhà đường, có các loài yêu quái bắt giết lấy Đường Tam Tạng Huyền Trang của nước Đường, vì những mong ăn được thịt người này thì hóa thành người. Lại có các loài hồ ly, linh miêu, sói già, quỷ núi... Tu luyện đã ngàn năm, tinh thông các phép, chứng kiến biết bao người vì có thân người mà đắc thành đạo lớn, lại chứng kiến biết bao đồng liêu của chúng vì không có thân người, mà dù sống suốt hàng nghìn hàng vạn năm, vẫn cứ chỉ là loài yêu ma, do đó mà quyết bày ra mưu này thuật nó, luyện phép này bùa nọ, chỉ mong cho được thành người để mở rộng đường tu. Nay ông vì việc tu, phải cố cho được làm người, rồi hẵng mong tìm về lẽ tu ấy, lấy mà làm lẽ sống. Đại bàng nghe nói dễ hiểu, liền nói: - Chú giảng tôi hiểu được, khác xa so với trong kinh điển giảng, tôi chẳng hiểu tý nào. Chú còn giỏi còn hay hơn Tổ Như Lai viết ra kinh điển vậy. Trần Minh cười lớn nói: - Tôi không thể nào so bằng ngài được. Như Lai từng nói: "chúng sinh căn cơ chẳng đều nhau, cần tùy vào hạng mà nói pháp môn." Trong chùa này giờ tụng kinh, là tụng pháp môn cho sư sãi phật tử, là cho hàng người nghe. Ông là hàng thú thì nghe không hiểu là phải. Tôi chỉ khéo mượn lối nói mà nói theo cách cho ông dễ hiểu. Việc tôi dùng lối nói này, đều nằm trong pháp môn của Như Lai cả rồi, không đâu mà thoát khỏi bàn tay ngài cả. Đại bàng nói: - Vậy tôi hỏi thêm một điều. Con người do đâu mà có? Chú tiểu chỉ cho tôi hay có được không? Trần Minh nói: - Trong đạo phật có một thuyết, gọi là mười hai nhân duyên. Trong đó cội gốc của nó là VÔ MINH. Vô Minh là món thứ nhất của mười hai nhân duyên, là sự ngu muội u mê, trong việc sự và lý, không rõ biết được đúng như thật, do đó mà sinh ra mê lầm, thật cho là giả, giả cho là thật, điên đảo hư vọng chấp ngã, chấp pháp, phân biệt mình và người: Rồi theo cảnh thuận nghịch mà khởi lên phiền não, nên cũng gọi là "hoặc". Từ việc mê hoặc đó mà tạo ra các nghiệp, hoặc là thiện, hoặc là ác. Sự tạo thành nghiệp thế gọi là HÀNH, đó là món thứ hai của mười hai nhân duyên. Từ cái sự HÀNH đó mà thành ra nghiệp thức, nghiệp thức này là một bản thức, nó dần lớn lên theo nghiệp, cho tới lúc thuần thục thì thác sinh vào thai mẹ, khi đó nghiệp thức ấy gọi là THỨC, đó là món thứ ba. Trong thai mẹ, gom tinh cha, huyết mẹ mà làm nhục thân, tâm thức cùng nhục thân đó hòa hợp gọi là DANH SẮC (danh là tâm thức, sắc là nhục thân), đó là món thứ tư. DANH SẮC sinh ra lần lượt các tượng, cho đủ sáu căn gọi là LỤC NHẬP, đó là món thứ năm. Khi bào thai hình hai xuất ra khỏi bụng mẹ, sáu căn đó tiếp xúc với sáu trần bên ngoài, khi đó thì biết nóng lạnh, đau đớn, êm ái... Nên gọi là XÚC, đó là món thứ sáu. Do có sự XÚC ấy mà tâm dần phân biệt, rồi có các sự vui, khổ... Đó gọi là THỌ, là món thứ bảy. Do có sự vui kho ấy, mới sinh ra việc ưa ghét, ghen tỵ, nhớ nhung, yêu thương, được gọi là ÁI, đó là món thứ tám. Vì ai cũng thích việc yêu, ghét việc hận, nên người ta tìm cầu lấy cái hay, cái tốt, cái sướng. Đó là sự mong cầu của con người. Việc cố tìm và quyết có cho bằng được ấy, gọi là THỦ, đó là món thứ chín. Trong quá trình THỦ và ÁI, tức là hành động, tìm kiếm để có được cảm giác sung sướng, tốt đẹp đó, con người hành động sinh ra nghiệp. Nghiệp này làm ảnh hưởng tới quả báo lên người đó trong tương lai, làm lành thì nhận quả báo lành, làm ác thì nhận quả báo ác, nên gọi là HỮU, đó là món thứ mười. Trong cái HỮU ấy chính là cái mầm mống để chi phối lên thần thức, làm cho thần thức tái sinh trở lại nghiệp kiếp, đó gọi là SINH, là món thứ mười một. Đã có SINH rồi, thì phải có già, có chết, gọi là LÃO TỬ, đó là món cuối cùng trong thập nhị nhân duyên. Mười hai nhân duyên này, VÔ MINH và Hành là nhân trong quá khứ, từ nhân đó mà sinh ra năm quả khổ của hiện tại là THỨC, DANH SẮC, LỤC NHẬP, XÚC VÀ THỌ. Năm quả khổ này khởi ra ÁI THỦ và tạo ra NGHIỆP, chúng lại tiếp tục trở thành nhân cho cái quả của tương lai là SINH và LÃO TỬ. Như thế, nhân quá khứ sinh ra quả hiện tại, quả hiện tại lại làm nhân cho quả tương lai, ba đời cớ nối tiếp lần hồi mãi không dứt, như thể bánh xe, lên xuống không nghỉ. Cứ từ đó mà suy được rằng con người không chỉ sống trong một kiếp này, mà đã từng sống về trước quá khứ không biết bao nhiêu đời sống nữa rồi, và trong tương lai còn không biết bao nhiêu đời sống nữa. Người sống rồi lại chết, mà cái chết lại thành cái nhân để sống cho đời sau, đó là vị lẽ ở đời, a di đà phật.