Chương 17: Chùa Phù Vân.

Thiên Gia Môn

Tĩnh Thuỷ 10-08-2023 00:11:20

Đỉnh Phù Vân, một bước lên tới trời Đạo muôn đời, đấng minh quân giác ngộ. Thuở xưa ở nước Đại Việt có ngọn núi nọ, cao hơn ngàn thước, chạm tới cả mây, Lên được đỉnh núi này phải đi qua sáu ngàn thước đường núi quanh co khó đi lại vòng theo chân núi. Trên đỉnh núi luôn có mây bao phủ nên núi có tên là Bạch Vân Sơn, về sau núi đó đổi gọi là núi Yên Tử, đỉnh núi gọi là đỉnh Phù Vân. Trên đỉnh núi đó có một ngôi chùa, gọi là Phù Vân tự, chùa có người trụ trì đức cao đạo lớn, hiệu là Phù Vân quốc sư. Đã sư là được, cớ sao lại là quốc sư? Ấy là bởi lẽ Sư Phù Vân là sư nổi tiếng cả một nước, có mối quan hệ thân thiết với hoàng tộc, xem như là người dẫn đầu soi lối cho công việc phật học ở nước Nam bấy giờ, nên được gọi là Phù Vân quốc sư. Sư Phù Vân thường sống trên núi ấy, đệ tử lên núi theo học cũng nhiều, đều là người có căn cơ, không ngại việc núi non xa xôi cách trở mà theo học. Cứ ai lên xin tu học sư đều nhận cho cả. Nhưng chẳng giữ lại lâu mà đặt ra lệ rằng các đệ tử cứ theo lệ học hết căn khóa thì xuất sơn, người chừng nhanh thì một hai năm, chừng lâu đến dăm bảy năm, đều lần lượt được sư truyền cho xuống núi để đi truyền đạo giúp đời. Ai có căn cơ tốt thì sư tiến cử lên kinh cho bổ làm trụ trì của các chùa trong nước, ai căn cơ không bằng thì tùy vào hàng căn mà sư chỉ cho lối tu, ai chưa dứt được duyên trần thì sư khuyên hoàn tục, cứ thế các đệ tử cứ lớp lớp đến rồi lại đi. Trong số vô vàn đệ tử của sư, Có một đệ tử được xem như là ngoại lệ, đã cùng ở với sư suốt cả hai chục năm trời không đi. Đệ tử đó là một giai thoại nổi tiếng trong lịch sử phật giáo cũng như lịch sử của nhà chùa, chú ta được nhà sư tâm đắc nhất và giữ bên mình nhằm truyền dạy cho hết học thuật bình sinh. Sư Phù Vân nuôi chú ta từ thuở chú ta còn sơ sinh. Chú tiểu đó có thân thế lạ kì, kể ra thì xem chừng không ai tin được. Nghe đâu người mẹ chú ta chẳng lang chạ với ai, chỉ mơ một giấc mơ lành mà lại đậu thai ra chú ta. Thế rồi chào đời chú ta lại thích nơi chùa chiền, thích nghe kinh điển, lại do nhân duyên mà từ tấm bé về chùa này ở với sư Phù Vân. Sư nghe biết câu chuyện rằng chú ta khi sinh ra đã ngậm một nhành hoa, hai tay hiện lên hai chữ Thi An (thi hành sự an vui, bình an), do đó sư giữ lại chùa lâu dài, đặt pháp danh cho tiểu là Thi An. Trong thời gian sư Phù Vân còn tại thế và sư Thi An còn đương ở Yên Tử, có nhiều việc kinh điển đã diễn ra trên núi này, còn được sử sách và hậu thế lưu về sau. ... Năm 1236. vợ vua Thái Tông là Chiêu Thánh hoàng hậu cưới đã lâu mà vẫn chưa có con. Lúc bấy giờ thái sư trong triều là Trần Thủ Độ đương nắm hết quyền hành, lo sợ vua không có nối dõi thì hỏng mất cơ đồ, bèn giáng Chiêu Thánh hoàng hậu về làm Chiêu Thánh công chúa để cưới vợ mới cho vua. Lúc này chị dâu của vua là Thuận Thiên công chúa lại đang mang thai ba tháng, Thủ Độ bèn đem phong lên làm hoàng hậu Thuận Thiên, nói rằng: - Hãy mạo nhận mà lưu lấy cái thai trong bụng Thuận Thiên làm chỗ nương tựa sau này. Anh vua là An Sinh vương trần liễu biết chuyện đó thì giận lắm, nhưng binh quyền về cả Thủ Độ nên không thể cản việc bị cướp vợ, bèn đem quân ra sông cái làm phản, nhưng thế lực chống không lại Thủ Độ, về sau phải hàng. Vua cũng chán việc đó, nói: - Chiêu Thánh nhường ngôi cho ta. Nay Chiêu Thánh không sinh được con cho ta, ta truất nàng đi, đó là bất nhân. Liễu là anh ta, Thuận Thiên là chị dâu ta, nay ta cướp vợ của anh về làm vợ mình, đó là bất nghĩa. Làm vua mà bất nhân bất nghĩa thì trời đất còn dung làm gì? Từ đó mà có ý định ra đi. Nhằm đêm ngày mùng ba tháng tư năm đó, Vua đã cải đổi y phục đi ra khỏi cửa cung, bảo với tả hữu rằng: - Trẫm muốn đi dạo để ngầm nghe lời dân, biết được chí dân, mới thấu hiểu nỗi khó khăn của trăm họ. Đến nửa đêm, Vua cùng một số tùy tùng rời khỏi hoàng cung vượt sông Nhị Hà, lên bờ đoàn người tiếp tục thẳng hướng đông tiến bước, đi về hướng núi Yên Tử. Vị trụ trì trên núi đó là Phù Vân quốc sư vốn là một người bạn của ngài, có thể tới nương nhờ vị ấy. Lúc này, Vua mới nói thực lòng cho tả hữu biết rõ ý định đi tu của Ngài và bảo họ hãy trở về. Mọi người đều vô cùng ngạc nhiên và khóc lóc thảm thiết nhưng vua không nghe. Tới hôm sau, Vua đến bến đò Đại Than ở núi Phả Lại. Trời sáng sợ người nhận ra, Vua lấy áo che mặt mà qua đò, rồi theo đường tắt lên núi. Đến tối, Vua vào nghỉ trong chùa Giác Hạnh, đợi trời sáng lại đi. Đường đi trèo núi hiểm, lội suối sâu, ngựa đuối sức không thể đi tiếp được nữa, Vua phải bỏ ngựa vịn vào các tảng đá mà đi. Đến trưa hôm đó thì vua đến chân núi Yên Tử. Vua lên thẳng đỉnh núi và tìm vào tham kiến Thiền sư Trúc Lâm là Phù Vân quốc sư. Thấy vua, quốc sư mừng rỡ, ung dung bảo: - Lão tăng ở chốn sơn giã đã lâu, xương cứng thân gầy, ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh núi rừng đã quen, lòng nhẹ như mây nổi, cho nên mới theo gió mà đến đây. Nay Bệ hạ bỏ địa vị là nhân chủ mà nghĩ đến cảnh quê mùa núi rừng, hẳn là muốn tìm cầu gì ở đây cho nên mới đến phải không? Vua nghe lời thầy hỏi, hai hàng nước mắt ứa ra, liền thưa với thầy rằng: - Trẫm còn thơ ấu, đã sớm mất mẹ cha, bơ vơ đứng trên sĩ dân, không có nơi nào để nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường, rồi việc trong nước chí trẫm chưa trị được, việc trong nhà trẫm quản cũng chẳng xong. Nghĩ mãi rồi vào đây, chỉ muốn cầu làm Phật, chứ chẳng muốn tìm gì khác". Thầy Phù Vân đáp: - Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Tâm lặng mà biết thì đó là Phật. Nếu Bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần đi tìm cực khổ ở bên ngoài. Vua nói: - Trong chốn cung đình nhiều mưu hiểm, trẫm là người phàm chưa đắc tới quả ấy, ở tu không nổi. Nếu thầy có thương thì xin giữ lấy. Sư Phù Vân còn toan can nữa, thì bấy giờ học trò là Thi An nói: - Xin cứ để bệ hạ ở chơi vài ngày cho biết cảnh núi rừng. Như con thấy mệnh ngài còn lo việc nước, chẳng ở đây được lâu. Thầy can hay không thì cũng thế. Cả sư Phù Vân và vua Thái Tông nghe sư Thi An nói thế đều lấy làm lạ. Quả nhiên Hôm sau, thái sư Trần Thủ Độ biết vua trốn lên núi Yên Tử, bèn đem các quân lên núi Yên Tử đón Vua về Kinh. Thấy vua, Thái sư thống thiết nói: - Tôi nhận lời ủy thác của Tiên quân, tôn Bệ hạ làm chủ thần dân. Lòng dân đang trông đợi Bệ hạ như con đỏ mong đợi mẹ cha. Huống chi ngày nay, các vị cố lão trong triều đều là bề tôi thân thích, sĩ thứ trong nước ai nấy đều vui vẻ phục tùng, đến đứa trẻ lên bảy cũng biết Bệ hạ là cha mẹ dân. Và lại, Thái Tổ vừa mới bỏ tôi mà đi, hòn đất trên nấm mồ chưa ráo, lời dặn dò bên tai còn văng vẳng, thế mà Bệ hạ lại lánh vào chốn núi rừng ẩn cư để cầu thỏa lấy ý chí riêng của mình. Tôi dám nói rằng, Bệ hạ vì sự tự tu riêng cho mình mà làm vậy thì được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Nếu để lời khen suông cho đời sau thì sao bằng lấy ngay thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ? Bệ hạ nếu không nghĩ lại, quần thần chúng tôi cùng thiên hạ sẽ xin cùng chết cả trong ngày hôm nay, quyết không trở về. Vua cả giận nói: - Tôi cứ không về thì ông làm gì được? Thế rồi kiên quyết chẳng đi. Thủ Độ cố nài xin nhiều lần đều không được, bèn nói với quần thần: - Bệ hạ ở đâu, tức là triều đình ở đó. Thế rồi cắt cử sắp đặt chuẩn bị cho việc san núi ngăn sông, lập điện làm cung. Vua thấy thế thì sợ lắm, tới gặp Phù Vân quốc sư, nước mắt lăn dài thưa câu chuyện. Phù Vân mỉm cười nói: - Nếu phàm vào thời quân phản phu cướp nước, thì chúng cũng chẳng tới như thế. Nhưng nay đều là người trung nghĩa, việc xử xét còn có chỗ chưa được lòng người, nhưng cũng vì nghĩ việc đại cục, do đó mà tới tận cửa thiền môn tìm rước bệ hạ đón về, ấy cũng là do cái vai trò sứ mệnh của bệ hạ trong đời này, với đất nước này. Trò Thi An nói chẳng sai, nghiệp bệ hạ làm vua, chẳng ở đây được lâu. Phàm làm đấng quân vương, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón Bệ hạ về, Bệ hạ không trở về sao được? Bệ hạ mà cứ ở đây, thì làm tổn hại tới chốn núi rừng của tôi đấy. Vua nghe thế, chẳng biết làm sao được. Đành phải nghe theo. Trước khi đi, vua gọi Thi An lại xoa đầu, nói: - Chú thật là hiền nhân nên mới đoán được việc khó. Lâu lâu tôi triều vào kinh, chú phải vào mà hầu chuyện đạo với tôi mới được. Thi An cúi đầu mỉm cười thưa: - Cung kính chẳng bằng tuân mệnh. Nghiệp bệ hạ là cha mẹ thiên hạ, cần phải làm tốt. Tuy nhiên, sự nghiên cứu kinh điển xin Bệ hạ đừng phút nào quên. Vua cười phá lên nói: - Chú còn dạy cả vua đấy. Thế rồi trao cho sư Phù Vân một thẻ bài miễn chết, Phù Vân nói: - Bần tăng già rồi cũng chẳng đi tới đâu mà cần thứ này, nếu bệ hạ không xét tới tội bất kính, xin cho người cần hơn. Sư Phù Vân xin giao thẻ bài đó cho sư Thi An, vua hợp ý lắm. Thế rồi ngài cùng mọi người trong triều trở về kinh, miền cưỡng mà lên lại ngôi báu. Ròng rã trong 10 năm trời, mỗi khi có cơ hội việc trong nước nhàn rỗi, vua lại tụ họp các bậc kỳ đức để học hỏi đạo thiền. Các kinh điển của các giáo lý chính, không kinh nào ngài không nghiên cứu. Ngài thường đọc kinh Kim Cang, một hôm đọc đến câu: "ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SINH KỲ TÂM", buông kinh xuống chiêm nghiệm, bỗng thoát nhiên đại ngộ. Sau này sư Phù Vân đã mất, vua Thái Tông thường triệu sư Thi An vào kinh luôn luôn, ngài hay nói với các quần thần: - Thượng tọa Thi An là người đức cao, việc học phật có gì khó, trẫm đều hỏi thầy ấy, nhờ đó mà được thông suốt cả. Gần hai mươi năm sau, giặc Mông Cổ xâm lược nước ta, vua Thái Tông đích thân tham gia chỉ huy nhiều trận, có mặt cả ở mọi nơi nguy hiểm, khiến quân sĩ đều nức lòng chiến đấu. Cuối cùng nhân dân Đại Việt đã đánh tan được đội quân hùng mạnh nhất thế giới này, ấy là ngài đã làm tròn sứ mệnh làm vua trong đời mình, như lời phán của sư Thi An năm xưa khi ngài bỏ triều đình mà lên Yên Tử vậy. Tới khi công đạo đã tròn đầy, đất nước vào thái bình, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con rồi lên làm Thái Thượng Hoàng. Từ đây, Ngài vừa làm cố vấn cho con, vừa lo nghiên cứu tu thiền. Đến lúc Vua con là Trần Thánh Tông đủ sức đảm đương việc nước, thì thượng hoàng ngài lui về lập am Thái Vi ở vùng rừng núi Vũ Lâm, cố đô Hoa Lư, Ninh Bình để an dân lập ấp và tu hành cho tới cuối đời. Về thiền học, Thái Tông là một Thiền sư có tầm cỡ, đạt đến sự chứng ngộ cốt tủy của thiền, sức sống thiền của Ngài rất mãnh liệt. Khi ngài sắp lâm chung, thiên sư Thi An vào thăm hỏi ngài, rằng: - Bệ hạ sắp mất rồi. Công danh một đời cũng hết, có lo sợ gì chăng? Ngài ung dung đáp thiên sư: - Sinh mệnh là vô thường, có gì đâu mà sợ. Năm Thiệu Bảo 1277. vua Thái Tông tịch, hưởng thọ 60 tuổi. Những câu chuyện về việc học phật của vua trần Thái Tông, một trong số các vị vua anh minh trong lịch sử nước Nam này, dù cả việc thật lẫn việc huyền huyễn do người đời sau kính yêu mà thêu dệt thêm vào, thì ít nhiều đều có gắn liền với Phù Vân tự đại loại như vậy.