Thư ấy đã lược đi một số phần rườm ra không cần thiết trình bày trong tiểu thuyết, thì còn đại lược rằng:
"Xuân Nguyệt, thượng quan Minh Cảnh quân doanh, chủ trì lục phủ quân doanh, xin kính thư tới Đổng đại nhân...
Xưa nay vẫn nghe đại nhân là quan phụ mẫu thanh liêm, Nguyệt từ lâu lấy làm ngưỡng vọng... ... ... Này Đổng đại nhân, trong địa phương ông giờ có một người già sắp tới dạy học, đó không phải người thường mà là một nhân vật lớn của xứ Minh Cảnh, vì việc chính trị mà tạm lánh tới xứ này, ta không tiện nêu tên ra, chỉ gọi là ông đồ già. Này Đổng đại nhân, chỉ trong thời gian ngắn, việc chính trị đó rồi sẽ qua đi, người này sau nhất định được quan quân tới tìm lại. ... Vậy Nguyệt nhờ ông trong thời gian người này ở lại, làm cho hai việc: Thứ nhất rằng, giữ tuyệt đối việc thân phận của người đó không để cho bách dân hay các quan biết. Thứ hai, bảo vệ an toàn tuyệt đối cho người đó, ngày sau thiên hạ thái bình, quan quân tới tìm mà người bị hỏng một sợi tóc nào thì ông đừng trách quân doanh tàn độc... ...
Này Đổng đại nhân, việc này là việc bí mật có liên quan tới an nguy của nhiều người, ông không được nói cho ai, kể cả là hàng thân tín, hay kể cả là ông đồ già đó. Khi nào ông nghe tin được rằng Thiên Gia Môn đã lên nắm quyền Minh Cảnh quân doanh, khi đó ông mới mang thư này tới mà bạch cho ông đồ già đó biết. Còn nếu ông nghe được tin Thiên Gia Môn bị tận diệt, thì ông đốt bỏ thư này đi, và ôm việc này xuống mồ mãi mãi... ... Ngay khi ông giở thư này ra thì ông đã bị yểm bùa, ông hãy giữ cái vỏ ốc cho kín không để ai trông thấy, vỏ ốc đó giữ cho tính mạng của ông khỏi bùa trong thư. Nếu bức thư này ông để làm lộ ra ngoài, ông sẽ chết ngay lập tức.
Sau khi Thiên Gia Môn lập thành, sẽ có một người thiếu niên tới đây tìm ông đồ già. Ông hỏi cho đúng người, nếu là họ Trần, tên Ngạn, giữ chức quân sư, ông mới giao ông đồ già cho người đó, còn bất kể ai khác ngoài Trần Ngạn, ông đều không được giao người.
Thêm nữa, không cần cho Trần Ngạn, biết về việc có bức thư này. ...
Xuân Nguyệt kính thư, chúc ông không chết."
Thế rồi Đổng huyện lệnh lấy trong túi ra một chiếc vỏ ốc đầy gai đã cũ, nói:
- Thưa quân sư, đây là chiếc vỏ ốc đã được gửi kèm với bức thư này. Trong thư có vẽ bùa, mỗi đêm tôi đều nghe thấy tiếng người và âm binh căn dặn lại việc đó nên luôn rất sợ hãi. Ngày sau tôi lại được tin trong Minh Cảnh quân doanh có đảo chính, nên càng tin tưởng thư này hơn. Tới khi thiếu chủ Trần Minh lên lại bậc chủ nhân, tôi mới dám đem thư này tới trình cho thầy Hằng, thì thầy mới nói cho tôi biết thầy là Trần Từ Hằng đại nhân, quan hành pháp của Minh Cảnh quân doanh. Chúng tôi cùng vì thế mà nghe ngóng, tới ngày sau thì quả nhiên có người tới hỏi tìm Trần Từ Hằng đại nhân.
Từ Hằng nói:
- Chúng tôi y theo như lời dặn trong thư, nên không đi theo quan quân sứ giả, do đó mà phải nhắn lại, phiền đích thân quân sư tới đây gặp để thưa chuyện.
Trần Ngạn hỏi Đổng huyện lệnh:
- Thư này ai giao cho ông?
Đổng huyện lệnh nói:
- Tôi vẫn nhớ như in, đó là một kẻ đội mũ trùm kín hết cả mặt, trông rất đáng sợ. Đêm đó tôi nằm ngủ thì hắn lù lù ở đầu giường tôi, chẳng biết vào bằng cách nào. Tôi nhìn thấy hắn đã phát khiếp rồi.
Trần Ngạn lầm rầm niệm chú, lập tức có một làn khói mờ bốc lên, nó nói:
- Tôi đoán không lầm có thể đó là Đại Long, cận vệ của Nguyệt Nhi.
Ngạn gật đầu, giờ bức lên ngang mặt cho Đột Quyết xem, nó nói:
- Tên này nói không sai đâu. Trên lá thư có vẽ bùa tử của Thiên Gia Môn, đó chính là bút tích của Nguyệt Nhi. Trong con ốc chắc chắn là tướng âm của Thiên Gia Môn.
Đoạn Đột Quyết đọc lên một câu thần chú bằng tiếng Phạn ứng với hiệu lệnh gọi binh được vẽ trên lá bùa, từ trong cái vỏ sên bay ra một hồn ma trắng lờ nhờ, khuôn mặt dài thõng, con mắt nằm dọc, con ngươi nằm ngang, miệng ngậm một nhành hoa. Đột Quyết nói:
- Phương linh Thường Tâm đấy phỏng?
Hồn ma trả lời:
- Phải, nhận lệnh Nguyệt Nhi canh giữ trong này, nếu bùa kích ra thì giết tên kia.
Đoạn trỏ tay về Đổng huyện lệnh.
Trần Ngạn gật đầu, đoạn cầm lấy vỏ ốc lên, Thường Tâm bèn tan vào đó. Ngạn cất vỏ ốc vào trong túi áo rồi cầm lấy bức thư, nói:
- Ông đã bị yểm bùa của Thiên Gia Môn. Ta là quân sư của Thiên Gia Môn, đã giải bùa cho ông rồi. Ông không cần lo nữa, chờ vài ngày xong công việc, ta sẽ có ban thưởng cho ông.
Đổng huyện lệnh mừng lắm, khấu lạy tạ Trần Ngạn. Thế rồi cũng hiểu việc mình đã xong, vội vàng hành đại lễ với hai vị trưởng giả, sau đó lui đi cung kính.
Từ Hằng gật đầu đáp lễ, còn Trần Ngạn thì không bận tâm gì tới hắn. Trong đầu Ngạn giờ đây đang nghĩ biết bao là chuyện khác rồi...
Cứ thế chúng trầm ngâm mãi, Từ Hằng mới nói:
- Khi đó tôi chống với thượng quan, do vậy mà phải từ quan, từ quan rồi lại còn không dám về quê mà phải đi tới đây vì nghĩ kiểu gì cũng chết, không muốn về quê lụy tới người nhà. Ấy thế mà vẫn được bình an tới giờ, tôi cứ thắc mắc mãi không biết vì sao thượng quan tha cho tôi. Xem thư này xong thì hiểu phần nào, có lẽ thượng quan đã đoán biết được việc Thiên Gia Môn lập thành, và ngài lên ngôi quân sư, lại biết rồi ngài sẽ dùng tới tôi. Thượng quan thấy cách trị dân của tôi có phần giống với quân sư, nên thương tình để tôi sống mà phụ tá cho quân sư đấy. Quân sư nghĩ thế nào?
Ngạn buồn rầu đáp:
- Nghĩ thế nào ư? Hậu bối chỉ đang nghĩ một lẽ rằng... Cả việc như thế, mà khi đó cũng đã tính được sẵn đến rồi sao? Là người gì mà giỏi thế? Là thần nhân chứ đâu còn là người nữa?
Rồi hai người lại trầm tư im lặng mãi...
Cả hai mỗi người nghĩ một dòng suy nghĩ riêng, nhưng dòng suy nghĩ của cả hai khi đó, lại đều cùng hướng về một người...
Trần Từ Hằng được mệnh danh là "túi khôn", là "đức nhân tiên sinh", ông ta trị dân thì trên đời mấy ai bằng được? Đừng kể chỉ làm quân sư, làm tới tướng quốc có khi ông ta còn làm được...
Phải, Xuân Nguyệt năm đó tha cho Trần Từ Hằng, chính là muốn để lại di sản cho Trần Ngạn sau này trong việc cai trị thiên hạ...
Nhưng mà tại sao... lại như thế?
Ngạn ngước lên hỏi:
- Có điều này hậu bối thực sự không thể hiểu nổi được... Muốn xin thỉnh ý trưởng giả.
Từ Hằng đáp:
- Xin quân sư cứ dạy.
Ngạn hỏi:
- Việc Xuân Nguyệt thảm sát Đông phủ, đại nhân năm đó, có biết không?
Từ Hằng ngước nhìn Trần Ngạn, thấy sắc mặt Ngạn nghiêm trang, biết là đã tra ra thật nên cũng không giấu, lặng lẽ gật đầu.
Ngạn nói:
- Quả nhiên Nguyệt nói không sai, trong Tây phủ chỉ sợ mình ông.
Từ Hằng thở dài nói:
- Năm đó việc xong tôi mới điều tra ra, nhưng Nguyệt giỏi quá bưng bít hết rồi, tôi nói ra không ai tin, cũng không làm gì được. Xin quân sư trách tội.
Ngạn lại nói:
- Trong trời đất này, việc gì người đó cũng tính được, việc gì cũng ở trong lòng bàn tay... Theo đại nhân, người đó có tính ra được ngày sau tôi lên nắm quyền, sẽ điều tra ra được việc cả nhà tôi chết?
Từ Hằng nói:
- Tôi nghĩ là có.
Ngạn đứng bật dậy hét lên:
- Vậy tại sao sau khi xong việc không giết luôn tôi đi? Cũng không bỏ trốn đi? Lại còn trao cho tôi nhiều quyền thế? Trong đầu người đó, rốt cuộc là nghĩ cái gì? Tại sao để tôi hận, giờ lại để tôi thương? Sao trên đời có một người, có thể đi được nhiều nước cờ cùng một lúc, lại có thể tính được nhiều nước cờ về sau như thế? Ngạn này nghĩ gì, làm gì, Nguyệt đều đọc ra được hết. Kể cả việc sau này tới đây tìm ông. Còn Nguyệt nghĩ gì, làm gì, Ngạn tôi không thể hiểu nổi... Tôi không thể nào lý giải nổi... Tôi không thể nào đọc được người đó nghĩ gì... Không thể nào đọc được...
Từ Hằng cúi đầu nói:
- Xin quân sư kiềm cơn xúc cảm. Lão phu ngày xưa may mắn được luận đạo với thượng quan một đêm dưới trăng, sau đó mới bị thượng quan cho vào tròng. Lão phu cũng đêm đó, may mắn được thượng quan trong phút xúc cảm mà giãi bày tâm tư. Mà tâm tư của thượng quan, xem chừng trên đời không nhiều người may mắn mà biết. Nếu quân sư có thể nhẫn nại, xin mời trấn tĩnh ngồi xuống, lão phu bày tỏ đôi điều cho ngài định đoạt.
Ngạn ngồi lại xuống. Trần Từ Hằng nói:
- Xuân Nguyệt là người thực thi sự công bằng tuyệt đối, đó là lý tưởng sống của Nguyệt. Chỉ rằng cái công bằng mà Nguyệt theo đuổi, nó chưa thực hợp với đạo trời biến hóa. Trong lưỡng nghi, vòng tròn âm dương, tại sao vùng đen lại có một chấm trắng nổi lên và ngược lại, trong vùng trắng lại có một chấm đen nổi lên? Ấy là vì khi cái âm đến cùng cực, thì sẽ có cái mầm dương nhú ra. Vào thời binh cách, lại không có quyền, thì mưu mô phải nhiều, đàn bà phải gánh, đó là vào cái thời của âm ám, của nhu thuận, của NGUYỆT QUANG (mặt trăng), khi đó dùng tới dương cương, dùng tới binh đao thì tất bị gãy, do đó Nguyệt ra sức mà làm. Tới khi cái âm ám, cái nhu đã cực dày cực thịnh, cái dương bị diệt hết đi rồi, là thiên gia đã thành hình, khi đó có mầm trắng nhú ra, đó là cái dương cương nảy nở, là thời của NHẬT MINH (mặt trời) thời của âm ám dần mất đi, cuối cùng tan biến hẳn trong vòng tròn âm dương. Nguyệt hiểu điều đó, nên để cho quân sư lên nắm quyền, rồi mình lui đi, đó là người biết đạo, nhưng người biết đạo, thi hành đạo lại bằng cái sự vô đạo tàn độc, thì nó lại là bất đạo vậy... Cho nên thế giờ Nguyệt phải bị bắt, đó là ứng ở đạo trời công bằng như cái cân gương, cũng là điều Nguyệt suy đoán được. Việc Nguyệt giết cả nhà ngài, nhưng trao quyền cho ngài, giữ cho tôi sống, đó đâu phải bởi Nguyệt không biết về sau ngài tất bắt Nguyệt? Đó đâu phải là điều gì mâu thuẫn với nhau? Đó chỉ là Nguyệt giữ sự công bình trong thiên hạ, khi còn trầm tối, hôn ám, tàn độc, phải ra tay với gia đình ngài, vì để Thiên Gia Môn được giữ. Khi đã sáng lạng, thanh bình, thì giữ quyền cho ngài, phục quyền cho tôi, là để Thiên Gia Môn được lên. Như tôi thấy các việc đó trước sau đều thống nhất, thể hiện ý chí của Nguyệt vì Thiên Gia Môn, cũng là vì cái đạo lớn vậy. Nguyệt biết theo đúng đạo, âm cực suy thì dương bắt đầu thịnh, nếu Nguyệt chuyên quyền giết ngài và tôi, ấy là duy trì cho cái âm mãi, đại đạo của Thiên Gia Môn vì thế mà cứ bị âm ám, hôn tối mãi không thể khởi lên, như thế là sai đạo. Do đó mà Nguyệt phục quyền cho ngài. Khi quyết làm như thế, thì có lẽ chuyện sinh mệnh, Nguyệt cũng chẳng màng xét tới nữa rồi.
Trần Ngạn nghe xong thì đầu gục xuống, chẳng biết vì sao, hai mắt bỗng thấy cay.