Bấy giờ Trần Minh trở về Minh Cảnh quân doanh, đoạn lập nên hai từ đường lớn.
Từ đường lệnh hầu đặt bài vị Trần Phi Long vào chính giữa, Vũ Thư bên tả, Trịnh Vân bên hữu, Trần Phi Cát đặt bên dưới.
Từ đường âm dương đặt ở chính phủ lệnh hậu, bài vị Trịnh Vân đặt giữa, Tử Du đặt bên tả, Xuân Nguyệt đặt bên hữu. Từ đường này thường dùng rèm nhung đỏ che đi rất bí mật, chỉ có người và quỷ thần trong Thiên Gia Môn biết và có lệnh ấn để vào thắp hương được. Trong từ đường ấy sát khí bao trùm, kẻ nào không liên can gì mà tò mò ở gần thì lập tức bị quỷ thần đánh giấu, đêm về thì đau đầu nôn mửa, kẻ yếu vía thì sinh bệnh tật thậm chí đến mức tử vong.
Đó là một từ đường thiêng liêng được gìn giữ quan trọng bậc nhất trong cung phủ, còn hơn cả các nơi trọng yếu thường thấy, bọn gia nhân cung hầu đến cả nói chuyện thì thầm về nơi này cũng không dám.
Trần Minh thông cáo ra việc tang trong khắp xứ Minh Cảnh. Tử Kỳ mặc áo xô gai, chịu ngôi con trưởng, Trần Minh và Diệu Lan thắt khăn tang con, Tiểu Yến, Lê Thị Lan và các tướng thắt khăn tang hầu. Tử Hậu không thắt khăn tang. Quỷ thần trong ba ngày không ra theo thần chú. Sư Thi An tụng kinh cầu siêu tiếp dẫn vãng sanh.
Hết ba ngày, sư Thi An cáo biệt lên đường, Diệu Lan theo di ngôn của Xuân Nguyệt, ở lại phụng sự cho Thiên Gia Môn. Diệu Lan là em gái của Trần Minh, bèn phân cho đứng đầu nữ nhân, ở phủ Thượng Quan (là phủ đại phu nhân cũ), cai quản chính trị hết trong phủ Minh Cảnh, nhưng Lan chủ yếu lo về âm phần, việc điều âm binh, còn việc chính trường bên ngoài, thì giao lại cả cho Lê Thị Lan là nhân chủ hậu phủ. Chúng kẻ lo việc âm, người lo việc trần, cùng nhau phụng sự.
Nguyễn Tử Kỳ, Lê Văn Hoài mang binh trở về xứ Sơn Nam. Các tướng bảo Kỳ mời Lê Ái ra giúp nhưng Kỳ không mời nữa.
Kỳ lập một hương đường lớn ở Sơn Nam, chính giữa đặt bài vị cha, bên tả đặt bài vị mẹ, bên hữu đặt bài vị Nguyệt, rồi chít khăn tang nguyện để trong ba năm.
Kỳ vẫn hận cái chết của Xuân Nguyệt, bấy giờ mang cả khăn tang điều binh sang đánh Lê Đạt ở Sơn Tây. Lấy cớ Lê Đạt không nghe lệnh điều động khi Kỳ mang quân về Minh Cảnh, các tướng can sao cũng không được.
Tử Kỳ đánh ba trận thắng cả, giết chết năm viên tướng của Lê Đạt. Đạt sợ hãi cuống cuồng, phải viết thư về Minh Cảnh cầu cứu Trần Minh.
Trần Minh sai Tử Hậu kéo quân ra phòng hờ để Tử Kỳ chùn bước, rồi lại sai Trần Ngạn đi giàn hòa. Ngạn khéo mãi mới giàn xếp được xong cho Tử Kỳ rút binh.
Từ đó Kỳ đâm chán nản buông xuôi, việc binh cũng xao lãng đi nhiều, cho quân sĩ uống rượu, bỏ bê việc tập trận. Nhiều đêm Kỳ uống say, lại về quỳ vật vờ dưới hương đường mà than khóc.
Nhiều lần có lệnh của Trần Ngạn gửi ra sai điều binh kình giặc cướp trong xứ, Kỳ cũng khất lần, chậm trễ mới thực hiện, có lần thì mặc kệ, có lần uống rượu say, còn chém cả sứ giả của Ngạn.
Trần Minh giận lắm, nhưng trừng phạt Kỳ cũng không nỡ, nhưng từ đó sai Trần Ngạn lấy dần quyền của Tử Kỳ đi.
Trần Ngạn làm theo lệnh ấy, dần dần điều Lê Văn Hoài về giữ Thanh Hoa, điều Nguyễn Hải Trân về phủ tướng quân, lấy binh từ Sơn Nam về dưới trướng Tử Hậu, chia cách dần vây cánh của Tử Kỳ, rồi còn nhiều chính sách làm giảm đi quân và tầm ảnh hưởng của Tử Kỳ lên hai xứ Tây Nam.
Tử Kỳ biết các việc đó nhưng cũng không để tâm đến nữa.
Cứ vậy tới khi triều đình tiến đánh, Trần Ngạn lệnh cho Kỳ mang quân về sát Minh Cảnh nhưng Kỳ không nghe, còn bao nhiêu quân mang hết ra bờ sông Lô đánh nhau với quân triều trần một trận sống mái. Trận đó Trần Quốc Tuấn làm chủ tướng, Nguyễn Địa Lô làm phó tướng, quân của Tử Kỳ tan vỡ không còn manh giáp, đó cũng là một trong những nguyên do khiến Thiên Gia Môn không chống đỡ được quân thiên triều. Sau trận chiến đó không còn thấy Tử Kỳ đâu nữa, có lời đồn rằng có người trông thấy Trần Quốc Tuấn giết chết Tử Kỳ, rồi ném xác xuống sông Lô. Sau lại có lời đồn rằng Quốc Tuấn bắt được Kỳ, nghe biết câu chuyện của Kỳ, lòng chợt thương xót cho tài năng và nhân cách của Nguyễn Tử Kỳ, bèn bắt Kỳ lập đại thệ nguyện trọn đời không được cầm quân nữa rồi thả cho đi, Tử Kỳ từ đó đi về phương Bắc, sống cuộc đời mai danh ẩn tích... Số phận của viên dũng tướng thực sự ra sao, về sau cũng không ai biết chính xác thực hư. ...
Lại nói triều đình nhận được thư dâng xin tự phong của Trần Minh, bấy giờ mới đem ra luận bàn. Lại cho gọi cả bình hầu Vũ Bá Phụng vào cùng nghị sự, vì bình hầu có mối thân cận với cố lệnh hầu. Vũ Bá Phụng vẫn còn hận việc Trần Minh bức giết Vũ Thư, bèn hết lời gièm pha. Triều đình cũng cho rằng việc Trần Minh tự lập như thế là khi quân, nếu không trị thì sau này sẽ còn nhiều người tự lập như thế, làm loạn kỷ cương phép nước, bèn viết sớ chấn chỉnh quân đội đi đánh dẹp Thiên Gia Môn, giao cho Trần Quốc Tuấn làm chủ tướng.
Thế rồi chọn xem ngày giờ, khi đó nhằm vào mùa thu năm Dậu, khởi binh đánh Trần Minh. ...
Bấy giờ Trần Minh phía Tây phải chống lại quân của Bình hầu, Đông Bắc lại lo đối phó với quân của Thiên triều.
Quân triều đình vốn hùng mạnh, vua Thái Tông là bậc anh minh, lại có nhiều bọn tài giỏi cả việc dùng binh và việc huyền môn như Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải làm chủ soái trong quân. Trong khi đó nội bộ của Thiên Gia Môn bấy giờ lục đục. Lê Đạt tuổi cao qua đời, Nguyễn Tử Kỳ trễ nải việc binh, không theo quân lệnh. Sau khi Tử Kỳ bại trận, nhiều tướng dưới quyền và ở sát lang ngày xưa theo Hồ Xuyên, vì thế thời phải theo về Thiên Gia Môn, bấy giờ lại trở giáo hàng quân triều đình. Trong xứ Minh Cảnh, lòng người cũng hỗn loạn, người theo chế độ cũ bấy giờ đều bị lung lay. Trần Minh không được lòng dân, tuy bên cạnh có nhiều tướng tài và trong Thiên Gia Môn có nhiều bậc kiệt xuất như Trần Ngạn, Tử Hậu, Lê Thị Lan, nhưng cuối cùng cũng không chống đỡ nổi.
Khi quân của Quốc Tuấn đánh vào đại phủ, Trần Minh dùng kế ve sầu thoát xác, bỏ lại Minh Cảnh quân doanh và tất cả kho tàng, chỉ mang theo người của Thiên Gia Môn cùng đi đào thoát về nước Đại Lý ở phương Bắc. Bấy giờ Trần Minh phải lẩn trốn, cải trang tránh truy sát, cũng tránh sợ lộ thân phận, bèn bỏ họ Trần đi, lấy dựa vào Thiên Gia Môn mà đổi thành họ Thiên, từ đó gọi là Thiên Minh.
Lại nói đại quân của Quốc Tuấn xiết vòng tròn từ ngoài vào, đều đảm bảo không ai lọt ra được, thế nhưng khi Quốc Tuấn dẫn quân vào chỉ còn lại cung quách và bọn nô bộc lâu la, cùng những chức quan thấp bé. Còn những nhân vật chính trị quan trọng trong Thiên Gia Môn như Tử Hậu, Trần Ngạn, Trịnh Văn Xí, Lê Thị Lan, Diệu Lan, Khả Sinh, Tiểu Yến... Nam có nữ có, văn có võ có, già có trẻ có, cũng rất nhiều người chứ không phải ít mà dễ dàng lẩn trốn. Đều không ai hay biết chúng dùng phép gì mà biến mất giữa vòng vây xiết không để lại một giấu tích, cứ như thể bốc hơi đi.
Quốc Tuấn lấy làm kinh ngạc lắm, bắt bọn quan văn trong phủ ra mà tra hỏi, chúng đáp:
- Thiên Gia Môn xưa nay thờ ma quỷ, ai nấy hành tung đều lập dị, chúng tôi sống cùng họ lâu nay, cũng không thể biết hết được họ làm gì. Gian từ đường của họ chúng tôi cũng không được vào.
Quốc Tuấn bèn bắt người dẫn tới xem, khi vén bức rèm nhung đỏ lên thì bá khí tỏa ra từ gian từ đường bao trùm, Tuấn lấy làm kinh hãi.
Bấy giờ định thần nhìn lại, thấy ngay giữa từ đường có vài bức bài vị đặt trước, phía sau từ đường là một bức tranh hắc bạch vẽ một mặt trăng rất tròn trên nền trời đen thẳm. Quốc Tuấn bị bức tranh hút hồn nhìn mãi, hồi lâu mới nhìn lại bài vị, lướt qua từng tên, rồi đột nhiên dừng lại trước bài vị Xuân Nguyệt, quay sang hỏi phó tướng là Nhật Duật:
- Xuân Nguyệt, có phải là tên của người được thiên hạ gọi là "Kỳ nữ xứ Thanh Hoa", làm ngả nghiêng cả trời Minh Cảnh?
Nhật Duật gật đầu, nói:
- Có thể xem như Tắc Thiên của nước Nam vậy. Nếu người đó còn chưa chắc ta chiếm xứ này thuận lợi thế.
Tuấn gật đầu, bùi ngùi nói:
- Nghe nói đâu còn là Kỳ thủ chơi cờ giỏi nhất trong thiên hạ. Nữ nhi mà thật là tài giỏi, tiếc rằng tài hoa thường bạc mệnh, ta còn chưa kịp gặp để so một ván cờ...
Thế rồi sai người thỉnh các bài vị trong phủ tới khu tế tự riêng biệt chứ không phá hủy đi, còn bức tranh hắc bạch thì mang về. Tuấn để trong trướng tướng quân, lâu lâu lại nhìn ngắm, vẫn thấy mặt trăng trong tranh tỏa ra một luồng nguyệt khí nguyên như một ngày đầu, ngắm mãi mà chẳng chán. ...
Quốc Tuấn bước ra bên ngoài, đứng trên lầu cao của đại phủ Minh Cảnh mà nhìn xuống bên dưới... thấy đất trời bao la bát ngát, người đi như thoi, thành quách bạt ngàn, không khỏi cảm thán trong lòng.
Trong cảnh phủ này, đã có biết bao nhiêu việc kỳ ảo tới khôn lường, về sự biến hóa tới tột bực của những kẻ hiểu thấu nhân sinh... Đã từng có một người, ở trong phủ này, mà mưu tính chuyện khắp thế gian. Cảnh nguy nga tới thế này, giang sơn rộng lớn đến thế này, giành được nó chẳng phải dễ dàng gì...
Tuấn nghiêng mình nhìn nơi không trung thiên địa, giữa cảnh sắc trời trống, nghĩ về người đã khuất bóng một đời gây dựng, cúc cung tận tụy với chủ, chợt thấy đồng cảm trong lòng, mắt bỗng lệ cay, nghiêng mình hành lễ vào chốn diệu huyền xa vợi. ...
Truyền:
Nhằm năm Kỷ Sửu, quan quân nhận lệnh đánh dẹp giặc phản loạn ở xứ Minh Cảnh. Bọn giặc này là nòi yêu quái, lập thành tông môn hội giáo, giáo chủ là kẻ luyện phép yêu ma, khi đó hắn mới chỉ trẻ lắm, khoảng độ hăm ba, hăm tư.
Đại quân mạnh như chẻ tre, thần tướng dẫn binh, đi tới đâu giặc tan tới đó, chẳng mấy chốc mà chiếm xong.
Loạn năm đó, thiên hạ gọi là "loạn Thiên Gia Môn."
Hết truyện.