Màn đêm buông xuống, Thanh Hà trấn dần yên ắng. Nhưng Vọng Giang Lâu cùng mấy con phố quanh đó lại vừa bắt đầu náo nhiệt.
Sòng bạc của Tào Bang nằm sâu trong ngõ Liễu ở phía đông thị trấn, chiếm trọn một tòa nhà ba lớp sân rộng. Trước cửa treo hai chiếc đèn lồng đỏ rực, trên đó viết hai chữ "Lưu Ký" dát vàng. Trong sân đèn đuốc sáng trưng, tiếng người huyên náo. Tiếng xúc xắc va vào nhau, tiếng con bạc la hét và tiếng nhà cái hô tỷ lệ cược hòa lẫn, đứng cách nửa con phố vẫn nghe rõ.
Quý Trầm ngồi xổm trên mái một tòa lầu bỏ hoang đối diện sòng bạc, áp sát người xuống ngói, hòa mình vào bóng đêm.
Hắn đã quan sát nơi này suốt một canh giờ.
Cửa chính sòng bạc mở rộng. Hai tên tay chân mặc áo ngắn vải thô màu đen tựa vào khung cửa, vừa cắn hạt dưa vừa tán gẫu. Khách ra vào nườm nượp, có thương nhân trong trấn, nông hộ vùng lân cận, cả mấy tên lưu manh bản địa trông rõ là khách quen. Thỉnh thoảng, có người thua sạch tiền bị đuổi ra ngoài, vừa chửi bới vừa lảng vảng trước cửa một lúc rồi lại bị tay chân xua đi.
Ánh mắt Quý Trầm không dừng lâu ở cửa chính. Hắn chậm rãi quan sát dọc theo tường viện, ghi nhớ từng góc có thể lợi dụng—
Tường viện cao chừng một trượng rưỡi, xây bằng gạch xanh, trên đầu tường cắm đầy mảnh sứ vỡ để ngăn người trèo qua. Bốn góc tường đều treo một ngọn đèn lồng bằng giấy dầu. Ánh đèn chiếu sáng khoảng một trượng dưới chân tường, nhưng giữa các ngọn đèn vẫn có vài chỗ khuất sáng.
Ở hậu viện sòng bạc có một cánh cửa nhỏ. Cửa nặng, then cài từ bên trong. Phía sau cửa là một con hẻm hẹp, cuối hẻm thông ra con mương bẩn ngoài trấn.
Ánh mắt Quý Trầm dừng lại rất lâu trên con mương ấy.
Con mương rộng chừng ba thước, sâu khoảng ngang hông. Rêu xanh và cỏ dại mọc đầy trên bờ, dưới đáy lắng một lớp bùn đen dày, bốc mùi hôi thối khiến người ta buồn nôn. Nhưng Quý Trầm để ý thấy con mương chạy ngay bên dưới tường viện hậu viện sòng bạc. Ở chỗ mương chui qua tường có lắp một tấm song sắt. Những thanh sắt to cỡ ngón tay cái, trông đã gỉ loang lổ.
"Song sắt..." Quý Trầm ghi nhớ chi tiết ấy."Gỉ đến mức này, chắc cũng chẳng còn chắc chắn."
Hắn lặng lẽ trượt xuống khỏi mái nhà, đáp vào bóng tối trong hẻm, rồi vòng sang phía bên kia sòng bạc, men theo chân tường đi một vòng.
Phía bắc và phía đông sòng bạc đều giáp với những căn nhà bình thường, tường viện nối liền nhau, không có nhiều sơ hở để lợi dụng. Nhưng khi vòng sang phía tây, Quý Trầm bỗng dừng bước—
Phía sau tường viện phía tây là một kho củi bỏ hoang. Mái kho đã sập mất một nửa, ngói vỡ vương vãi dưới đất, xà nhà trơ ra ngoài. Trông như nơi này đã lâu không có người sử dụng. Một mặt kho củi chỉ cách tường viện sòng bạc chưa đầy ba thước.
Quý Trầm nheo mắt, đứng trong khe hẹp ấy một lúc. Ánh mắt hắn lia qua lại giữa mái kho củi và tường viện sòng bạc mấy lần, rồi quay người rời khỏi con hẻm.
Nửa canh giờ sau, Quý Trầm vòng trở lại từ một hướng khác.
Lần này, hắn không đến gần tường viện sòng bạc nữa mà đi một vòng quanh những con phố bên ngoài, ghi nhớ vị trí các con hẻm, nhà cửa và chốt gác xung quanh.
Trong đầu hắn nhanh chóng hiện ra một sơ đồ mặt bằng của sòng bạc—
Cửa chính: Hai tên tay chân thường trực, khách ra vào đông, không thể lẻn vào từ đây.
Cửa sau: Vị trí khuất, nhưng cửa nặng và then cài từ bên trong. Cưỡng ép phá cửa sẽ gây tiếng động, dễ kinh động người bên trong.
Phía tây: Giáp kho củi bỏ hoang. Khe hở giữa kho củi và tường viện sòng bạc rất hẹp, nhưng mái kho cao hơn đầu tường sòng bạc chừng nửa trượng, là vị trí lý tưởng để quan sát và trèo qua.
Con mương bẩn: Thông thẳng vào hậu viện sòng bạc. Song sắt tuy chắn đường, nhưng đã gỉ nghiêm trọng, có thể dùng sức phá ra.
Quý Trầm nhẩm lại sơ đồ trong đầu một lần nữa. Sau khi chắc chắn không bỏ sót điều gì, hắn mới rời khỏi ngõ Liễu.
Hắn không về nhà ngay mà đi một vòng lớn quanh thị trấn, xác nhận không có ai theo dõi rồi mới trèo qua bức tường thấp ở hậu viện nhà mình.
Vào phòng, hắn thắp đèn, lôi một tấm ván gỗ cũ dưới gầm giường ra, rồi dùng một mẩu than củi đã cháy để vẽ lên đó.
Hắn vẽ rất cẩn thận—
Hình dáng sòng bạc, độ cao tường viện, vị trí đèn lồng ở bốn góc, hướng cửa sau và con mương bẩn, vị trí kho củi phía tây, cùng bố cục sơ bộ bên trong sòng bạc mà hắn suy đoán từ những gì quan sát được bên ngoài. Hắn thậm chí còn đánh dấu cả thời gian đổi ca của hai tên tay chân ở cửa: khoảng một canh giờ đổi người một lần, mỗi lần đổi ca kéo dài chừng nửa chén trà.
Vẽ xong, hắn ném mẩu than vào chậu than, úp tấm ván xuống bàn rồi tựa lưng vào ghế. Hắn nhắm mắt, diễn tập kế hoạch đột nhập từ đầu đến cuối ba lần trong đầu.
"Song sắt..."
"Leo tường thì trèo từ kho củi phía tây là kín đáo nhất, nhưng chỗ đáp xuống lại gần hậu viện, ở đó có thể có người canh ngầm."
"Đi qua con mương bẩn là nhanh nhất, lại dẫn thẳng đến khu vực kho ngầm. Nhưng cái mương ấy..."
Quý Trầm mở mắt, nhìn ngọn đèn đang lay động, khóe miệng khẽ cong lên.
"Mùi khó ngửi một chút cũng chẳng sao."
"Hướng đến kho ngầm... cơ bản đã xác định được." Hắn thầm tính toán."Nghe nói bang chủ Tào Bang, Lưu Vạn Tài, đêm nào cũng ở sòng bạc đến tận giờ Hợi mới rời đi. Có khi ông ta còn ngủ lại qua đêm trong phòng ở hậu viện."
"Vậy thì đợi ông ta rời đi, hoặc đợi ông ta ngủ say rồi mới ra tay."
Hắn thổi tắt đèn, ngồi yên trong bóng tối một lúc.
Gió đêm lùa qua khe tường, phát ra tiếng rít khe khẽ. Từ phía ngõ Liễu xa xa vẫn vọng lại tiếng huyên náo của sòng bạc, nhưng đã nhỏ hơn trước nhiều — có lẽ một số con bạc thua sạch tiền đã lần lượt rời đi.
Quý Trầm nhắm mắt trong bóng tối, khóe miệng vẫn giữ nguyên nét cười nhàn nhạt.
"Đã chuẩn bị xong xuôi..."
Hắn khẽ lẩm bẩm, chỉ đủ để mình nghe thấy.
"Chỉ còn chờ gió đông."